Điều 3. Sửa đổi, bổ sung Quyết định số 17/2008/QĐ-UBND ngày 09/12/2008 của UBND tỉnh.
1. Thay thế Điều 1 như sau:
“ Điều 1. Sửa đổi, bổ sung Quyết định số 06/2007/QĐ-UBND ngày 22/6/2007 của UBND tỉnh Điện Biên quy định cụ thể hóa một số điều về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án thủy điện Sơn La ban hành kèm theo Quyết định số 02/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ như sau:
1. Thay thế điểm a, khoản 2, Điều 1 như sau:
a. Bổ sung các trường hợp được áp dụng chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án thủy điện Sơn La như sau:
- Trường hợp cán bộ, công chức, viên chức, chiến sỹ lực lượng vũ trang, công an được cấp có thẩm quyền điều động đến nhận công tác tại nơi có hộ dân phải di chuyển đến điểm tái định cư (nơi đi) tỉnh Điện Biên sau thời điểm Quyết định số 196/2004/QĐ-TTg ngày 29 tháng 11 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể di dân, tái định cư Dự án thủy điện Sơn La có hiệu lực (ngày 22/12/2004), có tài sản gắn liền với đất được hình thành trong thời gian công tác được bồi thường tài sản đó theo Quyết định số 31/2008/QĐ-TTg ngày 25/02/2008 của Thủ tướng Chính phủ”.
- Trường hợp các hộ gia đình mới được tách ra từ hộ tái định cư hợp pháp sau ngày 05/02/2007 (ngày Quyết định số 02/2007/QĐ-TTg ngày 09/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực thi hành); nếu hộ gia đình mới tách đó bị Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án thủy điện Sơn La thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau đây thì được xác định là hộ tái định cư và được hưởng các chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định hiện hành:
+ Hộ gia đình được tách ra từ hộ tái định cư hợp pháp bị Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án thủy điện Sơn La theo quy định tại khoản 1 và 2, Điều 1, Quyết định số 02/2007/QĐ-TTg ngày 09/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ. Trước khi tách hộ, hộ đó cùng sinh sống, có hộ khẩu thường trú chung với hộ gia đình là bố mẹ, ông bà hoặc người thân, đã lập gia đình nay có nguyện vọng ra ở riêng.
+ Đã tách sổ hộ khẩu; được UBND cấp xã; cơ quan Công an, UBND cấp huyện thẩm tra xác nhận; được UBND tỉnh Điện Biên phê duyệt.
- Trường hợp hộ không có đất ở, nhà ở do thiên tai, lũ quét, sạt lở đất, không có giấy tờ chứng minh diện tích đất ở bị mất, phải di dời khỏi vùng lũ quét được các cấp chính quyền bố trí ở nhà của các cơ quan nhà nước, làm nhà trên đất của các cơ quan nhà nước, làm nhà trên đất nông nghiệp; đang phải thuê nhà ở, ở nhờ trước ngày 22/12/2004 có hộ khẩu thường trú đang sinh sống ổn định tại thị xã Mường Lay đến thời điểm lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được hưởng các chính sách hỗ trợ của dự án tái định cư thủy điện Sơn La theo quy định hiện hành.
Trường hợp hộ không thuộc đối tượng tại gạch đầu dòng nêu trên, có hộ khẩu thường trú trước 22/12/2004, đang sinh sống ổn định tại thị xã Mường Lay đến thời điểm lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư không có đất ở, nhà ở, phải làm nhà trên đất thuê, đất mượn của người khác, làm nhà trên đất nông nghiệp; đang phải thuê nhà ở, ở nhờ sau ngày 22/12/2004 thì được hưởng 80% các chính sách hỗ trợ của dự án tái định cư thủy điện Sơn La theo quy định hiện hành.
2. Bổ sung các trường hợp về nhân khẩu hợp pháp trong sổ hộ khẩu và các phát sinh tăng giảm nhân khẩu khi thực hiện các phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư như sau:
a) Các hộ gia đình có đất ở bị thu hồi và bị thiệt hại về nhà ở, tài sản; có sổ hộ khẩu trường trú tại địa bàn nhưng thực tế đã chuyển đi nơi khác sinh sống trước ngày 22/12/2004 chưa chuyển hộ khẩu đi, được cơ quan Công an cấp huyện rà soát xác nhận thì không được hưởng các chính sách hỗ trợ tái định cư theo quy định hiện hành (trừ chính sách hỗ trợ di chuyển đúng tiến độ).
Trường hợp các hộ nêu trên đã chuyển đi nơi khác sinh sống sau ngày 22/12/2004 có đăng ký tạm trú, tạm vắng được cơ quan Công an cấp huyện rà soát xác nhận thì được hưởng các chính sách hỗ trợ tái định cư theo quy định hiện hành. Trường hợp không đăng ký tạm trú tạm vắng thì không được hưởng các chính sách hỗ trợ tái định cư theo quy định hiện hành (trừ chính sách hỗ trợ di chuyển đúng tiến độ).
b) Bổ sung các trường hợp phát sinh tăng, giảm về nhân khẩu trong thời gian thực hiện chính sách hỗ trợ tái định cư;
- Nhân khẩu phát sinh tăng sau thời điểm lập phương án bồi thường, hỗ trợ nhưng trước thời điểm thanh toán bao gồm các trường hợp: khẩu mới sinh (đẻ) ; lực lượng vũ trang ra quân, khẩu mãn hạn cải tạo; đã nhập khẩu vào sổ hộ khẩu gia đình được áp dụng bổ sung cho từng khoản hỗ trợ theo thời điểm cho các khẩu tăng đó.
- Nhân khẩu phát sinh tăng không được hưởng các chính sách hỗ trợ trong các trường hợp: Nhập thêm khẩu từ nơi khác vào sổ hộ khẩu thường trú của các hộ gia đình sau ngày 22/12/2004. Nhập khẩu trước ngày 22/12/2004 nhưng không sinh sống ổn định tại thị xã Mường Lay được Công an cấp huyện rà soát xác nhận.
- Nhân khẩu giảm sau thời điểm lập phương án bồi thường, hỗ trợ nhưng chưa thực hiện thanh toán các khoản hỗ trợ không được hưởng các chính sách hỗ trợ trong các trường hợp: Khẩu chết; khẩu đã đi nhận công tác nơi khác (vào cơ quan, tổ chức nhà nước, doanh nghiệp; được ký hợp đồng dài hạn, được đóng bảo hiểm). Thời điểm xác định hỗ trợ được tính tròn theo tháng theo thời điểm giảm khẩu đó.
c) Trường hợp các hộ gia đình có vợ hoặc chồng công tác tại các xã giáp ranh thị xã Mường Lay hoặc các địa phương khác hiện là chủ hộ hoặc là nhân khẩu trong hộ khẩu thường trú tại thị xã Mường Lay; hiện đang sinh sống ổn định tại thị xã Mường Lay đến thời điểm kiểm kê, đo đếm đất đai, tài sản, lập phương án bồi thường, hỗ trợ; bị thu hồi đất ở và bị thiệt hại về nhà ở và tài sản khác, phải di chuyển đến điểm tái định cư được hưởng các chính sách hỗ trợ theo quy định hiện hành; được đăng ký tái định cư theo nguyện vọng.”
2. Bổ sung tiết e, tiết f, tiết g, tiết h khoản 2 Điều 2 như sau:
e) Đối với các hộ gia đình đã chuyển công tác ra ngoài thị xã Mường Lay sau ngày 22/12/2004 đến các địa bàn khác trong tỉnh nhưng có đất ở bị thu hồi có nhà ở, tài sản trên đất tại thị xã Mường Lay thì được bồi thường đất đai, tài sản, vật kiến trúc trên đất đó theo quy định hiện hành.
Trường hợp các hộ chưa được Nhà nước giao đất ở tại nơi chuyển đến công tác; nếu có nguyện vọng nhận bồi thường đất ở bằng việc giao đất ở mới thì được giao đất ở tái định cư tại các điểm tái định cư thủy điện Sơn La theo quy định hiện hành của UBND tỉnh.
f) Công nhận diện tích đất ở theo thực tế đang sử dụng vào mục đích để ở và công trình phục vụ nhu cầu ở (gồm nhà ở, nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh và công trình phục vụ nhu cầu ở khác) nhưng tối đa không quá 2 lần hạn mức giao đất hiện hành của UBND tỉnh (quy định tại Quyết định số 01/2006/QĐ-UBND ngày 24/3/2006 của UBND tỉnh) để tính bồi thường về đất ở đối với hộ đồng bào dân tộc đang sinh sống ổn định tại các bản của thị xã Mường Lay.
g) Đối với các thửa đất đất ao, đất lúa liền kề các phường của thị xã Mường Lay hoặc liền kề khu dân cư nông thôn tại xã Lay Nưa; khi được tính bồi thường theo quy định tại điểm 6, khoản 1 Điều 2 Quyết định số 17/2008/QĐ-UBND ngày 09/12/2008 của UBND tỉnh Điện Biên thì được bồi thường theo giá đất nông nghiệp cùng mục đích sử dụng và được hỗ trợ bằng tiền, mức hỗ trợ bằng 30% giá đất ở liền kề tại nơi có đất bị thu hồi.
h) Hỗ trợ công khai hoang, cải tạo đất bằng 50% đơn giá đất nông nghiệp theo từng hạng đất cho các trường hợp sau đây:
- Đất nông nghiệp phát sinh sau thời điểm đo vẽ quy chủ;
- Đất đã đo vẽ quy chủ nhưng đến thời điểm lập phương án bồi thường không còn hiện trạng do lũ quét, sạt lở đất;
- Đất đang sử dụng là đất nông nghiệp có nguồn gốc đất của các cơ quan không sử dụng từ trước ngày 15/10/1993;
Diện tích được hỗ trợ cho từng hộ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp của tỉnh quy định tại điểm 2, khoản 2 Điều 1 Quyết định số 07/2008/QĐ-UBND ngày 17/4/2008 của UBND tỉnh.
3. Sửa đổi mục a, tiết 1, khoản 4 Điều 2 như sau :
“a) Mỗi nhân khẩu hợp pháp của hộ tái định cư; hộ sở tại bị thu hồi đất ở, đất sản xuất được hỗ trợ lương thực bằng tiền có giá trị tương đương 20 kg gạo/người/tháng trong 02 năm (trừ đối tượng quy định tại khoản 6 Điều 25 Quyết định 02/2007/QĐ-TTg ngày 09/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ). Việc hỗ trợ thực hiện lần đầu tính cho 3 tháng; các lần sau tính 6 tháng một lần.”
4. Sửa đổi bổ sung gạch đầu dòng thứ nhất, thứ hai mục b tiết 6.3 khoản 3 Điều 3 cụ thể như sau:
‘‘ b) Chi phụ cấp trách nhiệm cho các thành viên: Ban chỉ đạo, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cấp huyện; Tổ giúp việc Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cấp huyện; công chức viên chức các ở ngành, đơn vị trực thuộc tỉnh được trưng tập theo các Quyết định của UBND tỉnh giúp UBND cấp huyện lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
- Đối với cán bộ, công chức, viên chức hưởng lương mức 80.000 đồng/người/ngày cho những ngày thực tế làm việc và áp dụng từ ngày 01/10/2008.
- Đối với ủy viên tham gia hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư không hưởng lương và nhân viên hợp đồng mức 90.000 đồng/người/ngày cho những ngày thực tế làm việc và áp dụng từ ngày 01/10/2008’’.
5. Bổ sung thêm mục đ, e, f, tiết 6.3 khoản 3 Điều 3 cụ thể như sau:
đ) Khoản phụ cấp trách nhiệm quy định tại gạch đầu dòng thứ nhất, thứ 2 mục b tiết 6.3 khoản 3 Điều 3 là khoản phụ cấp cho những ngày thực tế làm việc và được áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Quyết định số 17/2008/QĐ-UBND;
e) Phê duyệt cho thị xã Mường Lay được sử dụng nguồn kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ 2% để áp dụng chế độ tiền lương, phụ cấp theo quy định của các đơn vị sự nghiệp có thu, cụ thể cho hưởng thêm mức phụ cấp lương tối đa không quá 1,5 lần theo hệ số lương cấp bậc của cán bộ cho các đối tượng: Ban chỉ đạo bồi thường, hỗ trợ, tái định cư , Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và cán bộ giúp việc tham gia thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ (gồm: Trưởng ban chỉ đạo bồi thường, hỗ trợ và tái định cư , Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư , cán bộ tổ bồi thường của thị xã, cán bộ tổ công tác liên ngành của tỉnh tham gia trực tiếp lập, thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, bộ phận kế toán của Ban Quản lý dự án thực hiện thanh toán giải ngân về bồi thường, hỗ trợ (không tính phụ cấp chức vụ lãnh đạo).
Giao cho Chủ tịch hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thị xã Mường Lay căn cứ thực tế yêu cầu về tiến độ thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và kết quả công tác tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trong từng tháng của 2 năm 2008, 2009, và cân đối nguồn kinh phí 2% tổ chức thực hiện bồi thường, lập danh sách số người được hưởng, mức hệ số lương được hưởng, thời gian được hưởng trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Quyết định phê duyệt làm cơ sở thanh toán và quyết toán theo quy định;
f) Đồng ý cho thị xã Mường Lay sử dụng nguồn kinh phí 2% chi hỗ trợ cho lực lượng vũ trang được điều động lên giúp thị xã Mường Lay, và lực lượng thanh niên, các lực lượng khác do UBND thị xã mường Lay trưng tập giúp dân thực hiện di chuyển là 50.000đồng/người/ ngày cho những ngày thực tế làm việc theo Quyết định của cấp có thẩm quyền.
6. Sửa đổi bổ sung thêm mục a tiết 6.4 khoản 3 Điều 3 cụ thể như sau:
“a) Chi vật tư, văn phòng phẩm, dụng cụ, điện nước, thông tin liên lạc, in ấn tài liệu, hội nghị, tập huấn, họp hội đồng, công tác phí, xăng xe, hậu cần phục vụ, tuyên truyền, trang thiết bị, thuê văn phòng, tiếp khách và các khoản chi khác theo yêu cầu sử dụng thực tế phục vụ công tác tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo chế độ hiện hành và theo dự toán được duyệt của từng phương án bồi thường được phê duyệt.”
7. Sửa đổi, bổ sung nội dung khoản 2 Điều 4 cụ thể như sau:
“2. Được áp dụng theo quy định của Quyết định số 02/2007/QĐ-TTg ngày 09/01/2007, Quyết định số 141/2007/QĐ-TTg ngày 24/8/2007, Quyết định số 31/2008/QĐ-TTg ngày 25/2/2008, Quyết định số 06/2007/QĐ-UBND ngày 22/6/2007, Quyết định số 07/2007/QĐ-UBND ngày 22/6/2007, và các quy định tại Quyết định này cho các phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và công tác tổ chức thực hiện các phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư như sau:”
8. Quy định mức giá dầu hỏa để tính hỗ trợ tiền sử dụng điện thắp sáng và hỗ trợ chất đốt theo Quyết định số 72/2009/QĐ-TTg ngày 04/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ.
1. Hỗ trợ về y tế, tiền sử dụng điện thắp sáng, chất đốt thực hiện theo quy định của Quyết định số 72/2009/QĐ-TTg ngày 04/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ;
2. Mức giá dầu hỏa để tính hỗ trợ tiền sử dụng điện thắp sáng, chất đốt thực hiện theo báo cáo giá thị trường hàng tháng của Sở tài chính. Thanh toán hỗ trợ ở thời điểm nào thì sử dụng báo cáo thị trường của tháng đó; nếu tháng đó chưa có báo cáo thị trường, hoặc trong tháng không có giá dầu hoả, thì lấy giá của báo cáo thị trường tháng trước liền kề. Đợt đầu tính hỗ trợ 3 tháng, đợt sau tính hỗ trợ cho 9 tháng còn lại.
1. Bổ sung tiết h, tiết i, tiết j, tiết k, tiết l, khoản 3 Điều 5 như sau:
9. Sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 3, khoản 5, Điều 13 như sau:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy định cụ thể hoá một số điều về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án Thuỷ điện Sơn La ban hành kèm theo Quyết định số 02/2007/QĐ-TTg ngày 09/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ áp dụng trên địa bàn tỉnh Điện Biên.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 06/2007/QĐ-UBND ngày 22/6/2007 của UBND tỉnh Điện Biên quy định cụ thể hóa một hóa một số điều về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án thủy điện Sơn La ban hành kèm theo Quyết định số 02/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ áp dụng trên địa bàn tỉnh Điện Biên với các nội dung như sau;
1. Bổ sung khoản 5, Điều 2 như sau:
5. Điều kiện để được bồi thường, hỗ trợ về đất đối với trường hợp mua nhà thanh lý để ở (áp dụng quy định tại Điều 44, Điều 45 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ):
a. Trường hợp đất đang sử dụng là đất có nhà ở do được mua nhà thanh lý mà đất đó được sử dụng làm đất ở trước ngày 15/10/1993; được UBND xã phường xác nhận là đất không có tranh chấp thì người sử dụng đất được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng như sau:
- Diện tích đất bồi thường là diện tích đất mua nhà thanh lý; trong đó diện tích đất ở được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất ở theo quy định tại Điều 3, Điều 4-Quyết định số 01/2006/QĐ-UBND ngày 24/3/2006 của UBND tỉnh Điện Biên. Đối với phần diện tích vượt hạn mức giao đất ở trên cùng thửa đất có nhà thanh lý nhưng không được công nhận là đất ở (nếu có) thì được bồi thường, hỗ trợ về đất theo quy định đối với đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư;
- Trường hợp diện tích đất mua nhà thanh lý nhỏ hơn hạn mức giao đất ở thì toàn bộ diện tích đất mua nhà thanh lý được bồi thường là đất ở;
- Diện tích đất còn lại do hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng ngoài điện tích đất mua nhà thanh lý là đất lấn chiếm, đất sử dụng cho mục đích công cộng, đất chuyên dùng, đất của tổ chức, đất chưa sử dụng và các trường hợp khác đã có văn bản ngăn chặn, nhưng người sử dụng đất vẫn cố tình vi phạm; thì không được xem xét bồi thường, hỗ trợ;
b. Trường hợp diện tích đất đang sử dụng là đất có nhà ở do mua nhà thanh lý để ở mà đất đó được sử dụng làm đất ở sau ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004; được UBND xã, phường xác nhận là đất không có tranh chấp thì người sử dụng đất được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng như sau:
- Diện tích đất bồi thường là diện tích đất mua nhà thanh lý; nhưng diện tích đất được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất ở theo quy định tại Điều 3, Điều 4 –Quyết định số 01/2006/QĐ-UBND ngày 24/3/2006 của UBND tỉnh Điện Biên và giá trị bồi thường phải trừ đi tiền sử dụng đất phải nộp theo mức thu quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 8 – Nghị định số 198/2004/NĐ-CP của Chính Phủ;
- Đối với phần diện tích đất vượt hạn mức giao đất ở trên cùng thửa đất có nhà mua thanh lý nhưng không được công nhận là đất ở (nếu có) thì được bồi thường, hỗ trợ về đất theo quy định đối với đất nông nghiệp;
- Trường hợp diện tích đất của nhà mua thanh lý nhỏ hơn hạn mức giao đất ở thì toàn bộ diện tích đất của nhà mua thanh lý được bồi thường là đất ở và giá trị bồi thường phải trừ đi tiền sử dụng đất phải nộp theo mức thu quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 8 – Nghị định số 198/2004/NĐ-CP của Chính phủ;
- Diện tích đất còn lại do hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng ngoài diện tích đất của nhà mua thanh lý là đất lấn chiếm, đất sử dụng cho mục đích công cộng, đát chuyên dùng, đất của tổ chức, đất chưa sử dụng và các trường hợp khác đã có văn bản ngăn chặn, nhưng người sử dụng đất vẫn cố tình vi phạm; thì không được xem xét bồi thường, hỗ trợ.
2. Sửa đổi Điều 3 như sau:
1. Diện tích đất tính bồi thường, hỗ trợ: Trường hợp người có đất bị thu hồi có đủ điều kiện được bồi thường thiệt hại về đất theo quy định tại Điều 7 – Quyết định số 02/2007/QĐ-TTg ngày 09/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ; nhưng trong giấy tờ đó không xác định rõ diện tích đất sử dụng thì diện tích đất tính bồi thường, hỗ trợ được xác định như sau:
a. Về bồi thường:
- Đối với đất ở: Trường hợp diện tích thửa đất ở lớn hơn hạn mức giao đất ở tại đo thị và nông thôn được quy định tại Quyết định số 01/2006/QĐ-UBND ngày 24/3/2006 của UBND tỉnh Điện Biên thì diện tích đất ở được bồi thường thì xác định theo hạn mức nêu trên. Phần diện tích đất còn lại được xác định là đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư, đất vườn, ao liền kề với đất ở được bồi thường theo giá đất nông nghiệp cùng mục đích sử dụng và được hỗ trợ bằng tiền, mức hỗ trợ bằng 30% giá đất ở liền kề.
- Đối với đất nông nghiệp: Diện tích đất nông nghiệp được bồi thường theo diện tích thực tế đang sử dụng, nhưng tối đa không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp của tỉnh quy định tại mục 2, Khoản 2, Điều 2 Quyết định này. Diện tích đất nông nghiệp còn lại (nếu có) nhưng không thuộc các diện tích đất thuộc khu vực 1, khu vực 2, quy định tại mục b, khoản 1 Điều này thì không được bồi thường nhưng được hỗ trợ đầu tư vào đất theo mức quy định tại Khoản 1, Điều 2, Quyết định số 06/2007/QĐ-UBND ngày 22/6/2007 của UBND tỉnh Điện Biên..
b. Về hỗ trợ:
- Mức hỗ trợ bằng 30% giá đất ở liền kề cho toàn bộ diện tích đất nông nghiệp; đất vườn, ao trong vùng thửa đất có nhà ở nhưng không được công nhận là đất ở thuộc phạm vi các khu vực sau: (sau đây gọi tắt là khu vực 1)
+ Trong phạm vi địa giới hành chính phường;
+ Trong phạm vi khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn mà ranh giới khu dân cư đã được thể hiện trên bản đồ quy hoạch sử dụng đất chi tiết của xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt; trường hợp khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn mà chưa có khu quy hoạch khu dân cư, quy hoạch sử dụng đất chi tiết của xã, thị trấn được xét duyệt thì xác định theo ranh giới của thửa đất có nhà ở ngoài cùng của khu dân cư.
- Mức hỗ trợ bằng 30% giá đất ở liền kề nhưng diện tích đất được tính để hỗ trợ bằng tiền củ mỗi thửa không vượt quá năm (05) lần hạn mức giao đất ở được quy định tại Quyết định số 01/2006/QĐ-UBND ngày 24 tháng 3 năm 2006 của UBND tỉnh Điện Biên tại thời điểm có quyết định thu hồi đất trong các khu vực sau: (sau đây gọi tắt là khu vực 2).
+ Diện tích đất vườn, ao thực tế đang sử dụng trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ, nhà ở dọc kênh mương, nhà ở dọc tuyến đường giao thông không thuộc khu vực 1 quy định tại Điểm b, Mục 1, Khoản 2, Điều 2 Quyết định này.
+ Diện tích đất thuộc thửa đất nông nghiệp không có nhà ở, mà thửa đất đó tiếp giáp với ranh giới khu vực 1 quy định tại Điểm b, Mục 1, Khoản 2, Điều 2 Quyết định này.
c. Đối với thửa đất nông nghiệp; đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư và đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư thuộc khu vực 1, khu vực 2 nói trên bị thu hồi mà có ranh giới tiếp giáp với nhiều thửa đất có giá khác nhau thì giá đất để tính tiền hỗ trợ là giá bình quân của các thửa đất ở liền kề; trường hợp các thửa đất liền kề không phải là đất ở thì giá đất ở làm căn cứ để tính tiền hỗ trợ là giá đất ở của thửa đất có nhà ở gần nhất hoặc giá đất ở bình quân của các thửa đất có nhà ở gần nhất.
2. Hạn mức giao đất nông nghiệp của tỉnh áp dụng quy định tại Điều 70 của Luật Đất đai và Khoản 1, Điều 69 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai; cụ thể như sau:
a. Không quá 02 ha cho mỗi loại đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản;
b. Không quá 30 ha cho mỗi loại đất trồng cây lâu năm, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất;
c. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã được giao đất trồng cây hàng năm , đất nuôi trồng thủy sản; nếu được giao thêm đất trồng cây lâu năm thì hạn mức trồng cây lâu năm là không quá 25 ha; trường hợp được giao thêm đất rừng sản xuất thì tổng hạn mức giao đất rừng sản xuất là không quá 25 ha.
3. Giá đất để tính bồi thường, hỗ trợ là giá đất được UBND tỉnh quy định và công bố thực hiện vào ngày 01/01 hàng năm theo mục đích sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi đất của cấp có thẩm quyền; không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng.
Đối với thửa đất nông nghiệp; đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư và đất vườn, ao trong vùng đất thửa có nhà ở thuộc khu dân cư bị thu hồi mà có ranh giới tiếp giáp với nhiều thửa đất có giá khác nhau thì giá đất để tính tiền hỗ trợ là giá bình quân của các thửa đất ở liền kề; trường hợp các thửa đất liền kề; trường hợp các thửa đất liền kề không phải là đất ở thì giá đất ở làm căn cứ để tính tiền hỗ trợ là giá đất ở của thửa đất có nhà ở gần nhất hoặc giá đất ở bình quân của các thửa đất có nhà ở gần nhất.
3. Sửa đổi mục a, b, đ, Khoản 3, Điều 5 như sau:
Sửa đổi mục a, Khoản 3, Điều 5:
“a. Đối với nhà ở, công trình phụ, vật kiến trúc kèm theo nhà ở các hộ mua thanh lý của các cơ quan nhà nước từ sau ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004, đã tự đầu tư sửa chữa để ở nhưng chưa được chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà đất đó vẫn do Nhà nước quản lý, thì các hộ được hỗ trợ như sau:
- Xác định cụ thể hiện trạng từng hạng mục công trình làm cơ sở để áp dụng đơn giá theo tiêu chuẩn kỹ thuật, cấp công trình quy định hiện hành của UBND tỉnh Điện Biên về đơn giá bồi thường, hỗ trợ về tài sản, vật kiến trúc, cây trồng vật nuôi trên đất khi Nhà nước thu hồi đất địa bàn tỉnh Điện Biên. Mức hỗ trợ bằng 40% đơn giá bồi thường. Trường hợp có thay đổi quy mô kết cấu hoặc một bộ phận công trình thì ngoài tiền hỗ trợ theo quy định trên còn được tính toán bù trừ phần chênh lệch do đầu tư thay đổi quy mô kết cấu hoặc một bộ phận cộng trình đó.
- Đối với diện tích nhà, công trình phụ cơi nới (xây dựng thêm) phục vụ sinh hoạt thì được tính bồi thường bằng 100% đơn giá theo tiêu chuẩn kỹ thuật, cấp công trình quy định hiện hành của UBND tỉnh Điện Biên về đơn giá bồi thường, hỗ trợ về tài sản, vật kiến trúc, cây trồng vật nuôi trên đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Điện Biện”
Sửa đổi mục b, Khoản 3, Điều 5:
“b. Đối với các tổ chức, cá nhân mua nhà thanh lý của các cơ quan nhà nước để làm cơ sở sản xuất kinh doanh và các mục đích khác, không được chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà đất đó vẫn do Nhà nước quản lý, thì được hỗ trợ như sau:
- Xác định cụ thể hiện trạng từng hạng mục công trình làm cơ sở để áp dụng đơn giá theo tiêu chuẩn kỹ thuật, cấp công trình quy định hiện hành của UBND tỉnh Điện Biên về đơn giá bồi thường, hỗ trợ về tài sản, vật kiến trúc, cây trồng vật nuôi trên đất khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Mức hỗ trợ bằng 40% đơn giá bồi thường;
- Đối với diện tích công trình phụ cơi nới (xây dựng thêm) phục vụ sinh hoạt (không tính phần xây dựng mở rộng cơ sở sản xuất kinh doanh) thì cũng được tính bồi thường bằng 100% đơn giá theo tiêu chuẩn kỹ thuật, cấp công trình quy định hiện hành của UBND tỉnh Điện Biên về đơn giá bồi thường, hỗ trợ về tài sản, vật kiến trúc, cây trồng vật nuôi trên đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bản tỉnh Điện Biên như các hộ gia đình mua nhà thanh lý để ở”.
Sửa đổi mục đ, khoản 3, Điều 5:
đ. Trường hợp nhà ở công trình phụ, vật kiến trúc kèm theo nhà ở xây dựng trên đất chưa được quy định trong bảng đơn giá bồi thường thiệt hại tài sản trên đất theo quy định hiện hành của UBND tỉnh Điện Biên, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cấp huyện xem xét trên cơ sở thực tế của từng trường hợp, xác định áp dụng các tài sản có mức giá tương ứng quy định trong bảng giá, lập phương án bồi thường trình ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt đảm bảo tính công khai, minh bạch giữa các đối tượng được bồi thường.
4. Sửa đổi Khoản 2, Điều 6 như sau:
“2. Trường hợp một số cây trồng vật nuôi trên đất chưa được quy định trong bảng đơn giá bồi thường thiệt hại tài sản, hoa màu theo quy định hiện hành của UBND tỉnh Điện Biên, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái dịnh cư cấp huyện xem xét trên cơ sở thực tế của từng trường hợp, áp dụng các loại cây trồng có mức giá tương ứng đã quy định trong bảng giá, lập phương án bồi thường trình UBND cấp huyện phê duyệt đảm bảm tính công khai, minh bạch giữa các đối tượng được bồi thường.
5. Sửa đổi Khoản 2, Điều 7 như sau:
“2. Xử lý trường hợp thực tế phát sinh về giao đất ở tái định cư trên địa bàn tỉnh Điện Biên:
a. Chỉ xử lý chênh lệch giá trị đất nơi đi và nơi đấn đối với diện tích đất ở được tính bồi thường bằng phần diện tích đất ở được giao tái định cư theo quy định: nếu giá trị đất ở được giao của diện tích đã xác định nói trên thấp hơn giá trị đất ở bị thu hồi thì hộ tái định cư được bồi thường phần giá trị chênh lệch; nếu giá trị đất được giao của diện tích nói trên cao hơn giá trị đất bị thu hồi thì hộ tái định cư không phải nộp bù phần giá trị chênh lệch phần diện tích đã xác định đó.
b. Phần chênh lệch diện tích đất tái định cư còn lại tăng so với diện tích đất ở được tính bồi thường thì hộ gia đình, cá nhân được giao đất tái định cư phải nộp tiền sử dụng đất phần diện tích tăng đó theo đơn giá đất hiện hành tại nơi tái định cư.
Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được bồi thường về đất ở nhưng phải nộp tiền sử dụng đất theo mức thu quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 8-Nghị định số 198/2004/NĐ-CP của Chính phủ; khi được giao đất tại khu tái định cư còn phải nộp tiền sử dụng đất bằng 50% giá trị bồi thường đất ở tại nơi đi.
Trường hợp hộ gia đình, cá nhân nêu trên chưa có khả năng nộp tiền sử dụng đất thì được phép ghi nợ tiền sử dụng đất phần diện tích tăng đó theo quy định hiện hành.
c. Miễn thu tiền sử dụng đất ở trong hạn mức giao đất tái định cư bao gồm cả phần diện tích đất ở chênh lệch tăng tại nơi tái định cư so với diện tích đất ở được bồi thường cho toàn bộ diện tích đất giao để xây dựng nhà ở tái định cư quy định tại khoản 1 điều này cho các trường hợp sau đây:
- Đất giao để xây dựng nhà ở tái định cư cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số thuộc một trong các trường hợp: chưa có đất làm nhà ở, đang ở nhà mua thanh lý, đang đi thuê nhà để ở hoặc ở tạm nhà của các cơ quan nhà nước.
- Hộ gia đình có vợ hoặc chồng là công chức, viên chức, quân nhân; là người dân tộc thiểu số đương chức hoặc đã nghỉ hưu.
- Hộ gia đình bị mất đất ở phải di rời do thiên tai, lũ quét, sạt lở đât, không có giấy tờ chứng minh diện tích đất ở bị mất.
d. Giảm 50%tiền sử dung đất ở trong hạn mức giao đất tái định cư bao gồm cả phần diện tích đất ở chênh lệch tăng tại nơi tái định so với diện tích đất ở được bồi thường cho toàn bộ diện tích đất giao đẩ xây dựng nhà ở tái định cư quy định tại khoản 1, Điều 7-Quyết định số 06/2007/QĐ-UBND cho các trường hợp sau đây:
- Hộ gia đình nghèo theo tiêu chí xác định hộ gia đình nghèo của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội áp dụng trên địa bàn tỉnh Điện Biên.
- Trường hợp các hộ gia đình không có đất ở, mà nhà ở gắn liền với thuyền đánh bắt thủy sản trên sông, hồ tại nơi cũ; có hộ khẩu thường trú hợp pháp tại khu vực phải di chuyển, khi di chuyển đến điểm tái định cư, thì được giao đất ở tái định cư theo hạn mức quy định tại khoản 1, Điều 7-Quyết định số 06/2007/QĐ-UBND; được áp dụng giảm 50% tiền sử dụng đất phải nộp trong hạn mức đất được giao”
6. Sửa đổi nội dung thứ 2, gạch đầu dòng thứ nhất mục a, khoản 1, Điều 8 như sau:
- Giao UBND cấp huyện và Hội đồng bồi thường hỗ trợ và tái định cư cấp huyện tổ chức lập, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo đơn vị hiện hành.
7. Sửa đổi, bổ sung khoản 2, Điều 11 như sau:
2. Hỗ trợ tiền di chuyển tạm cho các hộ tái định cư của thị xã Mường Lay:
a. Đối với các hộ bị thu hồi đất ở, thuộc đối tượng bố trí tái định cư trong địa bàn thị xã Mường Lay; nhưng tại khu, điểm tái định cư chưa có đất ở để giao mà hộ đó phải tự khắc phục làm nhà tạm hoặc thuê nhà để ở thì được hỗ trợ tiền làm nhà tạm hoặc thuê nhà ở theo mức hỗ trợ như sau:
- Hộ có 1 người được hỗ trợ 3 triệu đồng;
- Hộ có nhiều người thì từ người thứ 2 trở lên, mỗi người tăng thêm đực hỗ trợ 1 triệu đồng;
Mức hỗ trợ trên bao gồm: kinh phí để các hộ san nền tạo mặt bằng xây dựng nhà ở tạm, tháo dỡ nhà cũ và dựng nhà tạm (tấm lợp, bổ sung vật liệu xây dựng nhà, quây nhà…) và được áp dụng tương ứng với kinh phí hỗ trợ tiền thuê nhà đối với trường hợp các hộ thuê nhà ở, không làm nhà tạm.
Trường hợp các hộ đã được hỗ trợ theo công văn số 642/UBND-CN ngày 03/8/2005 của UBND tỉnh Điện Biên, đã hết thời gian (6 tháng) hỗ trợ trước thời điểm Quyết định số 02/2007/QĐ-TTg ngày 09/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực thì được áp dụng hỗ trợ di chuyển tạm như mức quy định nói trên nhưng phải trừ đi số tiền đã được hỗ trợ trước đó.
b. Đối với việc di chuyển đường dây điện thoại, điện sáng, đường nước sinh hoạt và làm đường dân sinh; Ban Quản lý dự án cấp huyện lập dự án thành phần theo quy định, trình UBND cấp huyện phê duyệt để triển khai thực hiện.
c. Việc hỗ trợ quy định tại điểm a,b, khoản 7, Điều 2 Quyết định này chỉ áp dụng cho các hộ tái định cư thuộc đối tượng phải di chuyển mà hộ đó thực hiện di chuyển theo đúng kế hoạch, đuáng phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
8. Sửa đổi mục a, khoản 1, khoản 3 và khoản 6, Điều 12 như sau:
Sửa đổi mục a, khoản 1,Điều 12
“1. Hộ tái định cư, hộ sở tại phải di chuyển đến điểm tái định cư đựơc hỗ trợ chi phí vận chuyển người, tài sản, các cấu kiện, hạng mục có thể tháo dỡ lắp đặt lại, vật liệu còn sử dụng được của nhà ở, công trình phụ, vật kiến trúc kèm theo nhà ở.
a. Mức hỗ trợ:
Hỗ trợ di chuyển người từ nơi ở cũ đến điểm tái định cư:
+ Nhân khẩu của các hộ tái định cư khi di chuyển đến nơi ở mới được thanh toán tiền xe theo giá vé xe công cộng tai địa phương;
+ Trường hợp do yêu cầu đảm bảo tiến độ di chuyển dân, mà số lượng người không đủ cho một chuyến xe vân chuyển thì được thanh toán bằng một chuyến xe vận chuyển nhưng số người trên chuyến xe đó phải đảm bảo tối thiểu 50% số ghế quy định của xe.
- Hỗ trợ thuê phương tiện vận chuyển tài sản: bằng chi phí thuê xe tải loại trọng tải 5 tấn từ nơi đi đến nơi ở mới; với hộ có 01 người tính cho 01 chuyến xe, hộ 02 người trở lên tính cho 02 chuyến xe; Mức hỗ trợ tối thiểu cho 01 chuyến xe (cả bốc lên, xuống) là 01 triệu đồng/01 chuyến”.
Sửa đổi khoản 3, Điều 12:
“3. Xử lý trường hợp phát sinh thực tế trên địa bàn tỉnh Điện Biên:
a. Trường hợp các hộ tái định cư có nhu cầu đi thăm khu, điểm tái định cư và phải đến điểm tái định cư để nhận đất ở tái định cư trên thực địa trước khi di chuyển thì mỗi hộ được hỗ trợ tiền tầu xe đi lại cho một lần(một lượt đi, một lượt về) tiền ăn và tiền trọ; mỗi hộ chỉ tính cho 01 người. Mức hỗ trợ cụ thể như sau:
- Tiền tầu xe theo giá vé xe công cộng tại địa phương.
- Tiền ăn và tiền trọ: 70 ngàn đồng/ngày đêm. Trong thời gian tối đa là 4 ngày đối với hộ tái định cư đi thăm khu, điểm tái định cư; tối đa là 6 ngày đối với hộ tái định cư đến điểm tái định cư để làm thủ tục đất đai, nhận bàn giao đất ở trên thực địa.
- Việc thực hiện lập phương án và chi trả khoản tiền hỗ trợ tiền tầu xe và tiền ăn, tiền trọ như sau:
+ Đi trong nội tỉnh: Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cấp huyện nơi đến thực hiện lập và phê duyệt phương án hỗ trợ, thực hiện việc chi trả cho các hộ theo quy định tại Điều 20, Điều 21 Quyết định số 06/2007/QĐ-UBND ngày 22/6/2007 của UBND tỉnh Điện Biên.
+ Đi đến khu tái định cư ngoại tỉnh: Hội đồng bồi thường, hỗ trợ tái định cư cấp huyện nơi đi thực hiện lập và phê duyệt phương án hỗ trợ thực hiện việc chi trả cho các hộ theo quy định.
Trường hợp các hộ có nguyện vọng và thống nhất tổ chức đi thăm khu, điểm tái định cư hoặc đến điểm tái định cư để nhận đất ở tái định cư theo hình thức tập trung thì tùy thuộc vào số lượng các hộ và điều kiện thực tế UBND cấp huyện nơi đi có thể tổ chức cho các hộ đi tập trung, mức chi cho các hộ không vượt quá mức hỗ trợ nêu trên.
b. Các hộ có đất bị thu hồi, đủ điều kiện được bồi thường về đất ở và nhà ở nhưng đã chuyển đi nơi khác mà chưa chuyển hộ khẩu đi cùng, trong trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức, chuyển công tác nếu chưa được thanh toán tiền vận chuyển của cơ quan tiếp nhận công tác, cho nghỉ hưu, mất sức theo quy định, thì cõng được áp dụng theo quy định tại khoản 2, Điều 12-Quyết định số 06/2007/QĐ-UBND của UBND tỉnh”.
Sửa đổi khoản 6, Điều 12:
“6. Hỗ trợ di chuyển mộ:
a. Mức hỗ trợ: Thực hiện theo đơn giá bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất khi nhà nước thu hồi đất theo quy định hiện hành của UBND tỉnh Điện Biên, đối với mộ vô thừa nhận thì chủ đầu tư có trách nhiệm thuê di chuyển. Chi phí di chuyển không được vượt quá mức quy định hiện hành của UBND tỉnh.
b. Việc di chuyển mộ đến các địa phương khác mà phải mất chi phí về tiền đất thì ngoài mức hỗ trợ trên còn được hỗ trợ thêm chi phí về tiền đất là 500.000 đồng/mộ; chứng từ thanh toán theo quy định hiện hành;
c. Trường hợp theo phong tục tập quán của bản (hoặc dòng họ) không thực hiện di chuyển mộ vào khu nghĩa địa tập trung đã được dự án đầu tư xây dựng, mà tự tìm nghĩa địa để di chuyển mộ theo dòng họ, theo bản nhưng không ảnh hưởng đến quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương; được chính quyền địa phương cho phép thì ngoài mức hỗ trợ theo quy định tại mục a, điều này bản (hoặc dòng họ) đó được hỗ trợ tiền san ủi mặt bằng và đường vào nghĩa địa theo hình thức khoán gọn với mức hỗ trợ là: 500.000 đồng/mộ; kinh phí hỗ trợ giao trực tiếp cho bản có hạng mục công trình đó.
9. Sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 3, khoản 5, Điều 13 như sau:
Sửa đổi, bổ sung khoản 1, Điều 13:
“ 1. Hỗ trợ lương thực:
a. Mỗi nhân khẩu hợp pháp của hộ tái định cư nông nghiệp, hộ sở tại nông nghiệp bị thu cả đất ở và đất sản xuất, được hỗ trợ lương thực bằng tiền có giá trị tương đương 20kg gạo/người/tháng trong 02 năm kể từ ngày giao đất sản xuất (trừ đối tượng quy định tại khoản 6, Điều 25 – Quyết định 02/2007/QĐ-TTg ngày 09/01/2007 của thủ tướng Chính phủ);
b. Hộ sở tại không bị thu hồi đất ở (không phải di chuyển chỗ ở) nhưng bị thu hồi đất sản xuất nếu được giao đất mới thì tùy theo diện tích đất thực tế bị thu hồi được hỗ trợ bằng tiền . Mức hỗ trợ cụ thể như sau:
- Hỗ trợ 1.000 đồng/m2đối với đất ruộng và đất ao;
- Hỗ trợ 500 đồng/m2đối với đất trồng cây lâu năm và đất trồng cây hàng năm khác;
- Đất lâm nghiệp không được hỗ trợ.
c. Hộ tái định cư nông nghiệp sở tại chỉ bị thu hồi đất ở, không bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp phải di chuyển đến nơi ở mới; hộ tái định cư phi nông nghiệp không thuộc khoản 3, khoản 4, Điều 13, Quyết định số 06/2007/QĐ-UBND ngày 22/6/2007 của UBND tỉnh Điện Biên được hỗ trợ 1 lần bằng 500.000 đồng/khẩu sau khi đã đến nơi ở mới”
Sửa đổi, bổ sung khoản 3, Điều 13:
“3. Hỗ trợ các hộ sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp.
a. Đối với các hộ tái định cư, hộ sở tai sản xuất kinh doanh có đăng ký kinh doanh, khi Nhà nước thu hồi đất ở hoặc đất thuê kinh doanh bị ngừng sản xuất kinh doanh thì được hỗ trợ cao nhất bằng 30% một năm thu nhập sau thuế theo mức thu nhập bình quân của 3 năm liền kề trước đó được cơ quan thuế xác nhận (áp dụng theo khoản 2 Điều 28- Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ). Mức hỗ trợ thấp nhất không thấp hơn mức hỗ trợ 1 lần bằng 500.000 đồng/khẩu sau khi đã đến nơi ở mới hoặc đã di chuyển tạm bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư.
b. Đối với hộ tái định cư; hộ sở tại phi nông nghiệp khác (kinh doanh buôn bán nhỏ, làm nghề tiểu thủ công nghiệp, nội trợ…) không đăng ký kinh doanh có hộ khẩu thường trú tại địa phương thuộc đối tượng tái định cư; áp dụng hỗ trợ như hỗ trợ đối tượng quy định tại khoản 4, Điều 13- Quyết định số 06/2007/QĐ-UBND và sửa đổi bổ xung tại quyết định này. Mức hỗ trợ 1 lần bằng 500.000 đồng/khẩu sau khi đã đến nơi ở mới hoặc đã di chuyển tạm bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư”.
Sửa đổi, bổ sung khoản 5, Điều 13:
“5. Các đối tượng quy định tại khoản 1,2,3 và 4, Điều 13-Quyết định số 06/2007/QĐ-UBND và sửa đổi bổ sung tại quyết định này phải di chuyển chỗ ở cũng được hưởng các khoản hỗ trợ y tế; hỗ trợ giáo dục, hỗ trợ tiền sử dụng điện thắp sáng và hỗ trợ chất đốt quy định tại Điều 25-Quyết định số 02/2007/QĐ-TTg ngày 09/01/2007 của Thủ tướng chính phủ”.
10. Thay thế Điều 14 về hỗ trợ sản xuất như sau:
“ Điều 14: Quy định cụ thể mục b, đ, khoản 1, Điều 26, Quyết định số 20/2007/QĐ-TTg ngày 09/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ sản xuất.
1. Đối với các hộ tái định cư, hộ sở tại bị thu hồi cả đất ở và đất sản xuất phải di chuyển đến điểm tái định cư được hỗ trợ tiền mua giống cây trồng, phân bón thuốc bảo vệ thực vật để trồng cây hàng năm, cây lâu năm và chăn nuôi; mức hỗ trợ cụ thể như sau:
- Hộ có 1 người được hỗ trợ 07 triệu đồng;
- Hộ có nhiều người thì người thứ 2 trở lên, mỗi người tăng thêm được hỗ trợ 03 triệu đồng;
2. Hộ không phái di chuyển nhưng bị thu hồi đất sản xuất, hộ sở tại bị thu hồi đất sản xuất nhưng không bị thu hồi đất ở không phải di chuyển chỗ ở được hỗ trợ theo diện tích đất bị thu hồi. Mức hỗ trợ 1.000 đồng/m2 đất thu hồi.
3. Trường hợp phải khai hoang để đảm bảo đủ đất sản xuất (theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt). Mức hỗ trợ cho hộ tái định cư là mức hỗ trợ bằng tiền/ha thực tế khai hoang cụ thể như sau:
- Khai hoang để làm nương định canh có bờ, trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm: 4 triệu đồng/ha;
- Khai hoang để làm ruộng nước, ao thả cá: 7,5 triệu đồng/ha”
11. Sửa đổi khoản 1, Điều 16 như sau:
“1. Hỗ trợ xây dựng nhà ở, công trình phụ, vật kiến trúc kèm theo nhà ở tại nơi đến tái định cư tự nguyện được thực hiện theo quy định tại khoản 1, Điều 11-Quyết định số 06/2007/QĐ-UBND ngày 22/6/2007 của UBND tỉnh Điện Biên và khoản 3, Điều 23-Quyết định số 02/2007/QĐ-TTg ngày 09/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ. Đơn giá để tính hỗ trợ thực hiện theo định mức dự toán quy định của UBND tỉnh Điện Biên tại nơi đi”.
12. Sửa đổi, bổ sung khoản 3, Điều 18 về hỗ trợ khác như sau:
“3. Việc chuấn bị hồ sơ địa chính đối với khu đất bị thu hồi; giao đất cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện theo Quyết định số 246/QĐ-TTg ngày 29/02/2008 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế đặc thù thu hồi đất; giao đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho các hộ dân tái định cư Dự án thủy điện Sơn La”.